Phương pháp xử lý sinh học chất thải rắn hữu cơ

Hiện nay thì lượng rác thải sinh hoạt thải vào môi trường là rất lớn. Có gây nguy hại đến môi trường, chính vì thế chúng ta phải có phương pháp xử lý sinh học chất thải rắn hữu cơ hợp lý để có thể bảo vệ môi trường.

Hãy thử tự làm phép tính rằng trung bình mỗi người một ngày đưa vào môi trường khoảng 0,5 kg rác thải thì đất nước ta với tổng dân số lên đến 80 triệu, thế giới với dân số 6 tỷ sẽ phải xử lý một lượng rác thải khổng lồ như thế nào.

Chính vì vậy mà việc xử lý chất thải sinh hoạt là một vấn đề cấp thiết nhất của mỗi quốc gia, vấn đề quan trọng trong mỗi cộng đồng dân cư. Và hiện nay thì ngành công nghiệp xử lý rác thải sinh hoạt đã phát triển nhanh chóng đã thu hút nhiều công ty có phạm vi hoạt động quốc tế, với nhiều các công nghệ hiện đại.

Trong khuôn khổ của chương này, thì chúng ta chỉ đề cập đến những cơ sở của xử lý sinh học – đây cũng chính là công cụ chủ yếu để nhằm xử lý chất thải rắn hữu cơ nói riêng và xử lý các loại chất thải hữu cơ nói chung. Nắm vững được những cơ sở ấy thì chúng ta hoàn toàn có thể dễ dàng để tiếp cận đến những vấn đề khác mang tính kỹ thuật của việc xử lý chất thải rắn.

Tìm hiểu thành phần chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn hữu cơ

Thành phần của các loại chất thải rắn nói chung (rác thải) vô cùng đa dạng, bao gồm từ rác thải công nghiệp, cho tới các loại rác thải (phế thải) xây dựng, rác thải sinh hoạt, loại phế thải nông nghiệp. Như đã nói, thì các loại chất thải rắn hữu cơ chỉ có trong rác thải sinh hoạt (cùng với một hỗn hợp rất phức tạp của các hợp phần vô cơ), và hầu như toàn bộ thành phần của phế thải nông nghiệp.

Chính vì thế nếu muốn xử lý sinh học chất thải rắn hữu cơ trong rác thải sinh hoạt một cách hiệu quả thì bạn cần phải biết tách riêng chúng ra khỏi hỗn hợp của rác. Công việc phân loại đó sẽ được thực hiện một cách thủ công hoặc cơ giới. Việc tách (phân loại) bằng cơ giới chủ yếu được dựa vào tỷ trọng và kích thước của các hợp phần trong rác.

Riêng về phần chất thải rắn hữu cơ trong rác sinh hoạt, có thể thấy rằng chúng cũng rất đa dạng về thành phần các nguyên tố, do rất đa dạng về thành phần hợp chất. Trong quá trình xử lý chúng ta phải quan tâm tới thành phần nguyên tố của rác này bởi vì vi sinh vật than gia phân hủy chúng, cũng như mọi vi sinh vật, nó luôn đòi hỏi sự cân đối về thành phần nguyên tố trong hỗn hợp các loại chất dinh dưỡng mà chúng thu nhận, nhất là về tỷ lệ C:N.

Hiện nay, đối với các công ty xử lý chất thải thì thường nuôi vi sinh vật trên các môi trường có tỷ lệ C:N (w/w) khoảng từ 8 đến 10. Còn ở trong điều kiện tự nhiên của các bãi rác, thì tỷ lệ này thường cao hơn nhiều, tuy nhiên vi sinh vật vẫn có thể sinh trưởng được – tất nhiên không thể ở mức độ như ở trong phòng thí nghiệm. Do vậy mà quá trình bổ sung thêm dinh dưỡng nitơ vào các bãi rác tự nhiên để đạt tỷ lệ C:N như trong điều kiện phòng thí nghiệm là điều hoàn toàn không kinh tế. Tuy nhiên ở một mức độ nào đó thì cũng có thể dùng bùn cống như một nguồn dinh dưỡng nitơ bổ sung.

Biện pháp xử lý rác thải sinh hoạt

Ngoài những thông tin mà another-movie môi trường chia sẽ về việc Xử lý chất thải nguy hại bằng phương pháp ổn định hóa rắn thời gian trước, thì hôm nay chúng tôi sẽ tiếp tục gửi đến các bạn về việc xử lý sinh học được xem là một trong những biện pháp xử lý rác thải sinh học hiệu quả, rẻ tiền, mà lại ít gây ô nhiễm và phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới ở Việt Nam. 

Với công nghệ xử lý sinh học có thể chia làm 3 loại:

  1. Xử lý hiếu khí tạo thành phân (composting).

Đây chính là một phương pháp được áp dụng khá phổ biến ở hầu hết các quốc gia. Việc ủ rác sinh hoạt với các thành phần chủ yếu là chất hữu cơ dễ phân hủy có thể được tiến hành ở ngay tại các hộ gia đình để bón phân cho vườn cây của mình.

Ưu điểm: của phương pháp này đó chính là làm giảm được tối đa kích thước rác, bên cạnh đó còn tạo ra phân bón hữu cơ giúp ích cho công tác cải tạo đất. Chính vì thế mà phương pháp này rất được ưa chuộng ở các quốc gia nghèo và các nước đang phát triển.

Phương pháp ủ rác hiếu khí được dựa trên sự hoạt động của các vi sinh vật hiếu khí cùng với sự có mặt của oxy. Sự phân hủy hiếu khí được diễn ra khá nhanh, sau khoảng 2-4 tuần thì rác sẽ được phân hủy hoàn toàn. Các vi khuẩn gây bệnh và côn trùng cũng sẽ bị hủy diệt do nhiệt độ ủ tăng nhanh. Bên cạnh đó, thì những mùi hôi cũng bị khử nhờ quá trình ủ hiếu khí. Độ ẩm tối ưu cho quá trình này đó là khoảng 50-60%.

  1. Xử lý khị khí (Anaerobic).

Công nghệ ủ kị khí này được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ (phương pháp chủ yếu thực hiện ở quy mô nhỏ).

Ưu điểm:

– Cho phân hữu cơ có hàm lượng dinh dưỡng cao.

– Mức chi phí đầu tư ban đầu thấp. Các sản phẩm phân hủy có thể kết hợp xử lý với phân hầm cầu và phân gia súc.

– Đặc biệt là thu hồi được CH4 làm nguồn cung cấp nhiệt cho các nhu cầu đun nấu, thiêu đốt…

Nhược điểm:

– Thời gian phân hủy lâu hơn hiếu khí (từ 4-12 tháng).

– Các khí sinh ra từ quá trình phân hủy kị khí: H2S, NH3 gây ra nhiều các mùi hôi khó chịu.

– Các vi khuẩn gây bệnh luôn luôn tồn tại với quá trình phân hủy bởi vì nhiệt độ phân hủy thấp.

  1. Xử lý kị khí kết hợp với hiếu khí (Combined anaerobic and aerobic)

Biện pháp này chính là công nghệ kết hợp cả 2 công nghệ hiếu khí và kị khí.

Ưu điểm của phương pháp:

– Với phương pháp này không có lượng nước thải ra từ quá trình phân hủy hiếu khí.

– Sử dụng nước rò rỉ trong quá trình ủ để cho lên men kị khí.

– Vừa tạo được lượng phân bón phục vụ nông nghiệp và tạo khí CH4 cung cấp nhiệt.

Trên đây chính là một số các phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt công ty xử lý chất thải Bình Phước Xanh chia sẽ để các bạn có thể hiểu thêm.

Xử lý chất thải nguy hại bằng phương pháp ổn định hóa rắn

Nhờ vào các quá trình xử lý chất thải mà hiện nay chúng ta vẫn đang được sống trong một môi trường tạm gọi là “an toàn”, tuy nhiên bên cạnh việc xử lý chất thải thì mỗi cá nhân, doanh nghiệp vẫn cần thực hiện nghiêm ngặt các nguồn chất thải được thải ra môi trường để bầu khí quyển luôn được trong lành và sức khỏe con người không bị ảnh hưởng.

Một trong những phương pháp xử lý chất thải được sử dụng rộng rãi trong quản lý chất thải nguy hại đó chính là phương pháp ổn định hóa rắn.

Phương pháp ổn định hóa rắn là quá trình làm tăng các tính chất vật lý của chất thải, giảm khả năng phát tán ra môi trường, giảm tính độc hại của chất ô nhiễm. Sử dụng phương pháp ổn định hóa rắn trong các trường hợp xử lý chất thải nguy hại, xử lý đất bị ô nhiễm khi hàm lượng chất ô nhiễm cao ở trong đất cao, xử lý chất thải từ các quá trình khác thải ra.

Các chất phụ gia thường được sử dụng để ổn định hóa rắn đối với các chất thải nguy hại gồm có :

  • Xi măng

Được sử dụng để đóng rắn chất thải nguy hại và loại xi măng portlan được sử dụng thông dụng nhất; qua phương thức nung hỗn hợp đá vôi cùng với thạch cao (hoặc chất silicat khác) trong lò nung nhiệt độ cao mà xi măng portlan được sử dụng tại đây. Thích hợp nhất đối với các chất thải vô cơ, đặc biệt là chất thải có chứa kim loại nặng. Phương pháp sử dụng xi măng để hóa rắn chất thải nguy hại được đánh giá cao vì giá thành rẻ, thiết bị khuôn đúc và thiết bị nhào trộn đơn giản.

  • Silicat dễ tan

Phù hợp để đóng rắn chất thải chứa chì, kẽm, đồng có nồng độ cao.

  • Đất sét hữu cơ biến tính

Là đất sét tự nhiên đã được biến tính hữu cơ để trở thành đất sét organophilic

  • Pozzolan

Cùng với vôi mà pozzolan có trong nước được tạo thành vật liệu có tính chất như xi măng. Các vật liệu pozzolan bao gồm bụi lò xi măng, xỉ lò và xỉ than; phản ứng giữa vôi + nước + nhôm silic sẽ tạo ra sản phẩm như vữa gọi là vữa pozzolan.

  • Các polymer hữu cơ

Ưu điểm lớn của quá trình này là tạo ra một vật liệu mới có khối lượng riêng thấp hơn so với vật liệu được tạo ra từ quá trình đóng rắn bằng vật liệu khác.

  • Nhiệt dẻo

Các chất nhiệt dẻo gồm có nhựa đường, lưu huỳnh, paraphin, polyethylen, polypropylen sẽ được nấu chảy với chất thải ở nhiệt độ cao để làm ổn định chất thải nguy hại.

Dù rằng các công nghệ hiện đại liên tục được đưa vào sử dụng cùng với rất nhiều phương pháp được phát minh để xử lý chất thải nguy hại cũng không quan trọng bằng việc mỗi chúng ta hãy nâng cao ý thức bảo vệ môi trường để hạn chế tối thiểu những cơn “giận dữ” của thiên nhiên gây tới cho con người.